I. Đánh giá chung
Qua
gần 3 năm thực hiện, Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12 được quốc Hội kháo
XII, ký họp thứ 3 thông qua ngày 03/6/2008, có hiệu lực thi hành từ ngày
01/01/2009 đã đạt được những mục tiêu đặt ra trong qua trình tham gia
xây dựng Luật.
Trong đó nổi bật những ưu điểm sau:
-Thuế
giá trị gia tăng là loại thuế gián thu, có diện điều chỉnh rộng; thuế
nằm trong giá bán hàng hóa dịch vụ, người tiêu dùng chịu thuế , khi mua
hàng hóa dịch vụ là đã thanh toán tiền thuế, nhưng do thuế ẩn trong giá,
người tiêu dùng không cảm nhận nhiều gánh nặng về thuế nên dễ thu. Mặt
khác thuế thu ở khâu nhập khẩu , sản xuất , bán hàng hóa nên thu tương
đối nhanh . Hiện thuế GTGT là nguồn thu quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn
và ổn định trong ngân sách nhà nước.
-
Việc thu gọn nhóm mặt hàng không chịu thuế giảm từ 28 xuống còn 25
nhóm; chuyển trên 50% nhóm hàng hóa dịch vụ thuộc thuế suất 5% lên
nhóm thuế suất 10 % ( thuế suất 5% chỉ còn lại 15 nhóm hàng hóa dịch
vụ) là từng bước đảm bảo tính liên hoàn, bình đẳng của thuế GTGT.
-Việc
áp dụng thuế suất 0% với hàng hóa dịch vụ xuất khẩu, chính sách khấu
trừ, hoàn thuế. với các điều kiện ràng buộc như có hóa đơn chứng từ thuế
GTGT hợp pháp, thanh toán qua nhân hàng...đã góp phần khuyến khích
đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa dịch vụ, tăng cường đầu tư tài sản cố
định, áp dụng khoa học công nghê , chấn chỉnh và tăng cường hạch toán
kế toán và quản trị doanh nghiệp; tạo thuận lợi cho việc mở rộng phát
triển hoạt động sản xuất, kinh doanh; thúc đẩy quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế của đất nước.
. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả nói trên, Luật Thuế GTGT cũng đã bộc lộ một số hạn chế sau:
-
Dù đã thu gọn từ 28 xuống 25 nhóm hàng hoá, dịch vụ không thuộc diện
chịu thuế nhưng vẫn còn quá nhiều. Do không chịu thuế thì hàng hoá,
dịch vụ không thuộc diện chịu thuế GTGT khi bán ra, nhưng không được
khấu trừ thuế đầu vào nên tính không liên hoàn vẫn còn cao.
-
Việc áp dụng 2 thuế suất: 5% và 10 %, trong đó đã thu hẹp dần nhóm
thuế suất 5% nhưng vẫn chưa hợp lý đối với một số hàng hoá, dịch vụ và
chưa được thể hiện thống nhất mức thuế suất, gây thiếu bình đẳng
trong nghĩa vụ nộp thuế. Bên cạnh đó một số tiêu chí xác định để phân
biệt sự khác biệt về thuế suất chưa rõ ràng đặc biệt là các tiêu thức
hàng nông sản thực phẩm, thủy hải sản qua sơ chế hay chế biến ;con
giống, cây giống, trứng giống hay thực phẩm; thiết bị chuyên dùng trong
một số ngành nghề với trang thiết bị nói chung... gây khó khăn trong
thực thi
-
Một số quy định về điều kiện khấu trừ, hoàn thuế còn bất cập, chưa
thật sự rõ ràng, tăng các thủ tục hành chính thuế cho doanh nghiệp, thậm
chí gây rủi ro nghề nghiệp cho cả cán bộ thuế và người nộp thuế.
-
Việc áp dụng 2 phương pháp tính thuế, trong đó có phương pháp tính thuế
trực tiếp trên GTGT là chưa chưa phù hợp với yêu cầu quản lý, nâng
cao ý thức tăng cường hạch toán kế toán, giữ sổ sách kế toán đối với
người nộp thuế, đặc biệt với hộ nhỏ .
II. Đánh giá theo tiêu chí:
1.Về tính minh bạch:
Theo quy định tại Luật thuế GTGt và các văn bản hướng dẫn thực hiện
nhiều trường hợp còn thiếu tính minh bạch: thể hiện cách hướng dẫn
chưa rõ ràng đãn đến người nộp thuế, cơ quan thuế hiểu khác nhau. Thậm
chí có trường hợp cục thuế các địa phương cũng hiểu khác nhau, các cơ
quan quản lý cũng có thể hiểu khác nhau. Ví dụ :Sản phẩm surimi chả cá
đã tẩm ướp gia vị Tổng cục thuế hướng dẫn việc áp dụng thuế suất chưa
thống nhất: Công văn số 518/TCT-CS ngày 14/2/2011 hướng dẫn mức thuế
suất là 10%. Trường hợp trước ngày ban hành công văn số 3117/TCT-CS
ngày 18/8/2010 của Tổng cục Thuế, các đơn vị đã xuất hoá đơn, kê khai,
nộp thuế đối với sản phẩm surimi chả cá đã tẩm ướp gia vị với mức thuế
suất là 5% thì không thực hiện điều chỉnh lại. Xẩy ra tính trạng trên là
do hướng dẫn thực hiện tại các văn bản dưới Luật chưa rõ ràng và còn có
yếu tổ tồn tại 2 loại thuế suất đối với nhóm sơ chế và chế biến. Cụ
thể: Khoản 1-Điều 5: Luật thuế GTGT quy định: Đối tượng không thuộc
diện chịu thuế: Sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản nuôi trồng,
đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông
thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập
khẩu.
Nhưng tại Thông tư hướng dẫn chưa cụ thể, rõ ràng khái niệm: chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường ,hoặc hướng dẫn riêng lẻ, không bao quát ... nên tính thuế khác nhau cho cùng một sản phẩm.
Đối với dịch vụ phục vụ công cộng về vệ sinh, thoát nước đường phố và
khu dân cư bao gồm các hoạt động thu, dọn, vận chuyển , xử lý rác và
chất phế thải; thoát nước, xử lý nước thải; bơm hút, vận chuyển và xử lý
phân bùn, bể phốt; thông tắc công trình vệ sinh, hệ thống thoát nước
thải; quét dọn nhà vệ sinh công cộng; duy trì vệ sinh tại các nhà vệ
sinh lưu động ; đặt dụng cụ thu chứa rác thải phục vụ vệ sinh môi
trường và thu gom, vận chuyển xử lý chất thải khác cho tổ chức, cá nhân
Thông tư 129/2008/TT- BTC hướng dẫn chưa rõ ràng nên từ đối tượng
không chịu thuế , Cơ quan thuế hiểu chỉ là đối tượng không chịu thuế đối
với dịch vụ phục vụ công cộng và phải áp dụng thuế suất 10 % đối với
dịch vụ này khi các doanh nghiệp thuê các công ty cung ứng dịch vụ .
Nhiều doanh nghiệp đã tự đã kê khai nộp thuế theo thuế suất 10%, một số
doanh nghiệp không tính thuế... . Do vậy đã phải có hai Công văn hướng
dẫn của Bộ tài chính và Tổng cục thuế , trong đó có công văn Công văn
số 518/TCT-CS ngày 14/2/2011 hướng dẫn dịch vụ này thuộc đối tượng
không chịu thuế GTGT, nếu doanh nghiệp đã thực hiện xuất HĐ GTGT cho
khách hàng với mức TS 10% thì được lập HĐ điều chỉnh lại để không chịu
thuế.
Các văn bản này đã tự gây mâu thuẫn trong quá trình thực thi, liên quan
đến xác định nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp chưa rõ ràng, minh bạch
đồng thời còn gây ra việc lãng phí thời gian, công sức cho cả cơ
quan thuế và người nộp thuế trong việc xác định, điều chỉnh hóa đơn
chứng từ, tính lại số thuế phải nộp...
2. Tính thống nhất
-
Về nguyên tắc, các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật phải tuân thủ các
văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao hơn , tuy nhiên trong thực tế
một số nội dung hướng dẫn của văn bản thực hiện chưa phù hợp với bản
pháp luật có giá trị pháp lý cao hơn. Ví dụ như: thuế suất thuế GTGT
được quy định tại Luật thuế GTGT, từ ngày 01 tháng 01 năm 2009 đến nay,
thuế suất không thay đổi , nhưng các văn bản hướng dẫn thực hiện thì
thay đổi theo thời gain: Công văn số 518/TCT-CS ngày 14/2/2011 hướng
dẫn nghiệp vụ ứng trước tiền cho người bán của Công ty chứng khoán áp
dụng thuế suất thuế GTGT là 10%. Nhưng theo công văn Số:
8564/BTC-TCT của Bộ tài chính ngày 01 tháng 07 : thì Từ ngày 1/8/2011
hoạt động giao dịch mua ký quỹ chứng khoán (margin) của các Công ty
chứng khoán (giao dịch mua CK của khách hàng có sử dụng tiền vay của
công ty CK và sử dụng các chứng khoán khác có trong tài khoản và chứng
khoán mua được bằng tiền vay để cầm cố) theo Thông tư số 74/2011/TT-BTC
ngày 1/6/2011 của Bộ Tài chính thuộc đối tượng không thu thuế GTGT .
Theo
đó, khi thực hiện sẽ chia làm 2 thời kỳ: từ ngày 31 tháng 7 năm 2011
trở về trước hoạt động này chịu thuế GTGT theo thuế suất 10%, Từ ngày 01
tháng 8 năm 2011 không chịu thuế.
-
Mặt khác gọi là nộp thuế GTGT, nhưng người mua hàng hóa dịch vụ của đối
tượng nộp thuế theo phương pháp trực tiếp, sử dụng hoá đơn bán hàng
thông thường, dù giá bán đã bao gồm cả thuế GTGT nhưng người mua hàng
không được khấu trừ thuế đầu vào tạo cảm giác không đồng bộ trong
thực thi chính sách thuế., doanh nghiệp thường phàn nàn là không nhất
quán về thuế
-
Hệ thống chính sách thuế của Việt nam vừa phải phù hợp với điều kiện
cụ thể với đặc điểm kinh tế, xã hội... việt nam vừa phù hợp với thông
lệ quốc tế . Tại Điều 5 Luật VAT, quy định : “Hàng hóa, dịch vụ của cá
nhân kinh doanh có mức thu nhập bình quân tháng thấp hơn mức lương tối
thiểu chung áp dụng đối với tổ chức, doanh nghiệp trong nước” . Quy định
này là chưa phù hợp với thông lệ chung, gây khó hiểu, thiếu đồng nhất
giẵ thuế gián thu, trực thu. Vì thuế GTGT là thuế gián thu nhưng lại
dựa trên cơ sở “mức thu nhập” của người kinh doanh hàng hóa dịch vụ để
xác định hàng hóa dịch vụ này thuộc đối tượng chịu thuế hay không chịu
thuế.
3. Tính hợp lý.
-
Việc quy định quá nhiều nhóm dịch vụ hàng hóa không chịu thuế dẫn đến
không bình đẳng do không đảm bảo tính liên hoàn của thuế . Để đảm bảo
tính liên hoàn của thuế GTGT thì việc mở rộng đối tượng chịu thuế, thu
hẹp diện không chịu thuế VAT bằng cách chuyển một số hàng hóa, dịch vụ
sang diện chịu thuế hoặc loại bỏ một số hàng hóa, dịch vụ không thuộc
diện chịu thuế. Điều này là hợp lý và phù hợp với chủ trương của nhà
nước hiện nay là chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy hiện đại hóa nông
nghiệp và nông thôn...
-
Việc qui định 2 mức thuế suất thuế GTGT ngoài thuế suất 0% , đã tạo
ra sự không công bằng giữa các hàng hóa, dịch vụ thuộc các mức thuế suất
khác nhau. Khoản 2, Điểm c, Điều 8 Luật VAT qui định: Thức ăn gia súc,
gia cầm và thức ăn cho vật nuôi khác thuộc diện áp dụng thuế suất 5%.,
khoản h quy định : đường, phụ phẩm của đường áp dụng thuế suất 5%...
Thực tế có những sản phẩm vừa sử dụng với mục đích làm thực phẩm cho con
ngươi, vừa làm thức ăn gia súc như ngô mảnh, sắn mảnh... thì áp dụng
thuế suất là bao nhiêu (5% hay 10%)? Lập luận cho rằng doanh nghiệp
đường gặp khó khăn, hoặc đường sản xuất chủ yếu bằng mía – do nông dân
sản xuất ra- nên được áp dụng thuế suất ưu đãi 5 % đã không còn phù
hợp, bình đẳng trong kinh doanh. Phân tích trên cho thấy xét về hiệu
quả quản lý và cả về mặt lý luận thì xu hướng chuyển dần sang áp dụng 1
mức thuế suất là phù hợp và cần thiết, hạn chế được những cách hiểu và
vận dụng luật không thống nhất, phân biệt đối xử trong kinh doanh, gây
bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp cũng như trong tiêu dùng các sản
phẩm hàng hóa dịch vụ có mức thuế khác nhau. . Áp dụng một mức thuế suất
cũng sẽ bảo đảm được tính minh bạch, bình đẳng trong chính sách thuế
GTGT, bảo đảm tính liên hoàn của thuế cũng như hạn chế những trường hợp
phải hoàn thuế do chênh lệch thuế suất đầu ra, đầu vào... góp phần
thực hiện cải cách hành chính thuế có hiệu quả và phù hợp với thông lệ
quốc tế về thuế GTGT
Mặt
khác, việc tiến tới áp dụng cơ bản một mức thuế suất là phù hợp với
quyết định số Số: 732/QĐ-TTg ngày 17/ 05 / 2011 của Thủ tướng chính
phủ về việc phê duyệt chiến lược CC hệ thống thuế giai đoạn 2011- 2020
-Về điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào -:Khoản 2.Điều
12. Luật thuế GTGT quy định điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng
đầu vào như sau:
...
b)
Có chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào,
trừ hàng hoá, dịch vụ mua từng lần có giá trị dưới hai mươi triệu đồng;
c)
Đối với hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu, ngoài các điều kiện quy định tại
điểm a và điểm b khoản này phải có hợp đồng ký kết với bên nước ngoài về
việc bán, gia công hàng hoá, cung ứng dịch vụ, hoá đơn bán hàng hoá,
dịch vụ, chứng từ thanh toán qua ngân hàng, tờ khai hải quan đối với
hàng hoá xuất khẩu.
Việc thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu dưới hình thức thanh
toán bù trừ giữa hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu với hàng hóa, dịch vụ nhập
khẩu, trả nợ thay Nhà nước được coi là thanh toán qua ngân hàng.
Tuy Bộ tài chính, Tổng cục Thuế đã có thêm công văn hướng dẫn thực
hiện nhằm thuận lợi hơn cho doanh nghiệp, nhưng quy định về việc khấu
trừ thuế trong trường hợp thanh toán qua ngân hàng trả chậm ... còn mất
nhiều thời gian, thủ tục với doanh nghiệp: Thông tư 129/2008/TT-BTC quy
định: Đối với hàng hoá, dịch vụ mua trả chậm, trả góp có giá trị hàng
hoá, dịch vụ mua trên hai mươi triệu đồng, cơ sở kinh doanh căn cứ vào
hợp đồng mua hàng hoá, dịch vụ, hoá đơn giá trị gia tăng và chứng từ
thanh toán qua ngân hàng của hàng hoá, dịch vụ mua trả chậm, trả góp để
kê khai, khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào, đồng thời ghi rõ thời
hạn thanh toán vào phần ghi chú trên bảng kê hoá đơn, chứng từ hàng hoá,
dịch vụ mua vào. Trường hợp chưa có chứng từ thanh toán qua ngân hàng
do chưa đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng, cơ sở kinh doanh vẫn
được kê khai, khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào. Đến thời điểm
thanh toán theo hợp đồng nếu không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng
thì không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào, cơ sở kinh doanh phải kê
khai, điều chỉnh giảm số thuế giá trị gia tăng đầu vào đã khấu trừ của
giá trị hàng hoá không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng
Quy định này gây cho doanh nghiệp gia tăng các thủ tục hành chính về
thuế . Đề nghị cho doanh nghiệp khấu trừ, nếu phát hiện doanh nghiêp
thanh toán tiền mặt thì sẽ phạt vi phạm pháp luật về thuế.
Ngoài
ra thông 129/2008/TT-BTC còn quy định các điều kiện khác chưa phù hợp
trong quản lý, hạch toán kế toán và kê khai thuế của doanh nghiêp như:
Thuế GTGT đầu vào của tài sản cố định, vất tư hàng hóa.. hư hỏng tổn
thất không được khấu trừ thuế đầu vào (việc tổn thất có thể xẩy ra
nhiều năm sau thời gian đã kê khai khấu trừ thuế đầu vào nên khó xác
định), hoặc hàng hóa hao hụt trong định mức chỉ được khấu trừ thuế GTGT
đầu vào đối với mặt hàng xăng dầu ( quy định tại Công văn số 518/TCT-CS
ngày 14/2/2011), còn các hàng hóa khác chưa được khấu trừ thuế đầu vào
... là bất hợp lý, còn phân biệt đối xử giữa các hàng hóa kinh doanh
với nhau. Thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ hình thành tài sản cố
định của doanh nghiệp như nhà ăn ca, nhà nghỉ giữa ca, nhà ở miễn phí,
phòng thay quần áo, nhà để xe, nhà vệ sinh, bể nước phục vụ cho người
lao động làm việc trong khu vực sản xuất, kinh doanh và nhà ở, trạm y tế
cho người lao động làm việc trong các khu công nghiệp được khấu trừ
toàn bộ. Nhưng các thiết bị đi kèm như mày điều hòa, thiết bị nhà ăn...
lại không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào.
Điều 12. Luật thuế GTGT quy định: ...
d)
Thuế giá trị gia tăng đầu vào phát sinh trong tháng nào được kê khai,
khấu trừ khi xác định số thuế phải nộp của tháng đó. Trường hợp cơ sở
kinh doanh phát hiện số thuế giá trị gia tăng đầu vào khi kê khai, khấu
trừ bị sai sót thì được kê khai, khấu trừ bổ sung; thời gian để kê khai,
bổ sung tối đa là sáu tháng, kể từ thời điểm phát sinh sai sót.
Quy
định này đã nới rộng thời gian kê khai bổ sung so với Luật cũ là 2
tháng, nhưng vẫn còn bất cập với doanh nghiệp, việc khấu trừ chậm
người nộp thuế đã tự gặp khó khăn vì vốn, trong lúc thời điểm tính thuế
GTGT đầu ra thì khồn phụ thuộc vào việc đã thu tiền hay chưa thu tiền
cũng đã phải kê khai nộp thuế . Điều này là chưa công bằng, hợp lý giữa
Nhà nước và doanh nghiệp nên việc nới rộng thời gian được khấu trừ
thuế là phù hợp.
4. Tính khả thi
- Điểm 3,
Mục I, c.5 thông tư 129 quy định: Thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, tài
sản cố định mua vào bị tổn thất, bị hỏng do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn
bất ngờ không được khấu trừ.
Quy định này là thiếu tính khả thi , khó thực hiện trong thực tế và không thuận lợi cho doanh nghiêp do:
+Các tổn thất này là bất khả kháng, ngoài ý nuốn của doanh nghiêp
+Khi mua
hàng hoá , tài sản doanh nghiệp đã khấu trừ thuế đầu vào, vài ba năm sau
mới phát sinh tổn thất hư hỏng lúc đó yêu cầu loại trừ thuế đầu vào đã
khấu trừ các năm trước làm tăng thêm chi phí tại thời điểm tổn thất
+ Doanh nghiệp mất nhiều thời gian để tìm lại các chứng từ của số thuế đầu vào đã khấu trừ các năm trước để loại ra..
-
Đối với hàng hoá, dịch vụ dùng để khuyến mại, quảng cáo, hàng mẫu phục
vụ cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ (sản phẩm, hàng hoá, dịch
vụ dùng để khuyến mại, quảng cáo, hàng mẫu theo quy định của pháp luật
thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại) thì phải lập hoá đơn GTGT,
trên hoá đơn ghi tên và số lượng hàng hoá, ghi rõ là hàng khuyến mại,
quảng cáo, hàng mẫu không thu tiền; dòng thuế suất, thuế GTGT không ghi,
gạch chéo.
Theo
đó doanh nghiệp không nộp thuế đầu ra nhưng được khấu trừ thuế đầu
vào. Tuy nhiên trong thực tế sản phẩm khuyến mại, quảng cáo của doanh
nghiệp khó thực hiện theo quy định của pháp luật thương mại về hoạt động
xúc tiến thương mại (cơ quan thương mại không tiếp nhận hồ sơ và xác
định đầy đủ thủ tục) nên doanh nghiệp thực tế khuyến mại vẫn không được
khấu trừ thuế đầu vào. Như vậy quy định của Luật thì ddwwocj khấu trừ ,
nhưng thực teesnhieeuf hàng hóa tiếp thị khuyến mại không được khấu trừ
thuế đầu vào.
-Điều 8 Luật thuế GTGT quy định : Mức thuế suất 0% áp dụng đối với
hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, vận tải quốc tế và hàng hóa, dịch vụ không
chịu thuế giá trị gia tăng quy định tại Điều 5 của Luật này khi xuất
khẩu, trừ các trường hợp chuyển giao công nghệ, chuyển nhượng quyền sở
hữu trí tuệ ra nước ngoài; dịch vụ tái bảo hiểm ra nước ngoài; dịch vụ
cấp tín dụng, chuyển nhượng vốn, dịch vụ tài chính phái sinh; dịch vụ
bưu chính, viễn thông; sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai
thác chưa qua chế biến ...
Thông tư 129/2008/TT-BTC quy định cụ thể:
-Dịch vụ xuất khẩu bao gồm dịch vụ được cung ứng trực tiếp cho tổ chức, cá nhân ở nước ngoài hoặc ở trong khu phi thuế quan.
Tổ
chức ở nước ngoài là tổ chức nước ngoài không có cơ sở thường trú tại
Việt Nam, không phải là người nộp thuế giá trị gia tăng tại Việt Nam;
Cá
nhân ở nước ngoài là người nước ngoài không cư trú tại Việt Nam, người
Việt Nam định cư ở nước ngoài và ở ngoài Việt Nam trong thời gian diễn
ra việc cung ứng dịch vụ;
Khi
xuất khẩu bản thân người xuất khẩu chưa xác định được bên nhập khẩu
dịch vụ có đáp ứng các yêu cầu: không có cơ sở thường trú tại Việt Nam,
không phải là người nộp thuế giá trị gia tăng tại Việt Nam hay là người
nước ngoài không cư trú tại Việt Nam hay không nên rất khó thực hiện
-.Về giá tinh thuế GTGT
Luật thuế GTGT quy định:
Đối
với hoạt động kinh doanh bất động sản là giá bán bất động sản chưa có
thuế giá trị gia tăng, trừ giá chuyển quyền sử dụng đất hoặc tiền thuê
đất phải nộp ngân sách nhà nước;
Thông tư 129/2008/TT-BTC quy định:
Đối
với hoạt động kinh doanh bất động sản, giá tính thuế là giá chuyển
nhượng bất động sản trừ (-) giá đất (hoặc giá thuê đất) thực tế tại thời
điểm chuyển nhượng. Trường hợp giá đất tại thời điểm chuyển nhượng do
người nộp thuế kê khai không đủ căn cứ để xác định giá tính thuế hợp lý
theo quy định của pháp luật thì tính trừ theo giá đất (hoặc giá thuê
đất) do UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định tại thời
điểm chuyển nhượng bất động sản. Giá đất tính trừ để xác định giá tính
thuế tối đa không vượt quá số tiền đất thu của khách hàng.
Trường
hợp xây dựng, kinh doanh cơ sở hạ tầng, xây dựng nhà để bán, chuyển
nhượng có thu tiền theo tiến độ thực hiện dự án hoặc tiến độ thu tiền
ghi trong hợp đồng, giá đất được trừ (-) là giá đất thực tế tại thời
điểm thu tiền lần đầu theo tiến độ. Giá đất được trừ tính theo tỷ lệ
(%) của số tiền thu theo tiến độ thực hiện dự án hoặc tiến độ thu tiền
ghi trong hợp đồng với giá đất thực tế tại thời điểm chuyển nhượng (thời
điểm thu tiền lần đầu theo tiến độ).
Hiện
nay có nhiều công văn của Bộ tài chính, Tổng cục thuế hướng dẫn nội
dung này, nhưng khó thực hiện, tính khả thi chưa cao do giá đất khi chưa
có công trình, dự án đầu tư khác với giá đất đẫ có cơ sở hà tầng,
đường xá, cầu cống. Hợp đồng mua bán khoong tách bạch giá đất, giá
nhà...cần sửa đổi bổ sung cho phù hợp.để có tính khả thi hơn../.