Nhận định chung về các vướng mắc của doanh nghiệp

NHẬN ĐỊNH CHUNG VỀ CÁC VƯỚNG MẮC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP, MÔI TRƯỜNG KINH DOANH TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN LUẬT VÀ CÁC VĂN BẢN HƯỚNG DẪN THI HÀNH
 


I. Đánh giá chung

 Qua gần 3 năm thực hiện, Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12 được quốc Hội kháo XII, ký họp thứ 3 thông qua ngày 03/6/2008, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009 đã đạt được những mục tiêu  đặt ra trong qua trình tham gia  xây dựng Luật.

 Trong đó nổi bật  những  ưu điểm sau:

-Thuế giá trị gia tăng là loại thuế gián thu, có diện điều chỉnh rộng; thuế nằm trong giá bán hàng hóa dịch vụ, người tiêu dùng chịu thuế , khi mua hàng hóa dịch vụ là đã thanh toán tiền thuế, nhưng do thuế ẩn trong giá, người tiêu dùng không cảm nhận nhiều gánh nặng về thuế  nên dễ thu. Mặt khác thuế thu ở khâu nhập khẩu , sản xuất , bán hàng hóa nên thu tương đối nhanh . Hiện thuế GTGT là  nguồn thu quan trọng,  chiếm tỷ trọng lớn và ổn định trong  ngân sách nhà nước.
 
- Việc thu gọn nhóm mặt hàng không chịu thuế  giảm từ 28 xuống  còn 25 nhóm;  chuyển  trên  50% nhóm hàng hóa dịch vụ thuộc  thuế suất 5% lên nhóm thuế suất 10 % (  thuế suất 5% chỉ còn lại 15  nhóm hàng hóa dịch vụ) là từng bước đảm bảo tính liên hoàn, bình đẳng  của thuế GTGT.

-Việc áp dụng thuế suất 0% với hàng hóa dịch vụ xuất khẩu, chính sách khấu trừ, hoàn thuế. với các điều kiện ràng buộc như có hóa đơn chứng từ thuế GTGT hợp pháp, thanh toán qua nhân hàng...đã  góp phần khuyến khích  đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa dịch vụ,   tăng cường đầu tư tài sản cố định, áp dụng khoa  học công nghê , chấn chỉnh và tăng cường hạch toán kế toán và quản trị doanh nghiệp; tạo thuận lợi cho  việc mở rộng phát triển  hoạt động sản xuất, kinh doanh; thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước.

. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả nói trên, Luật Thuế GTGT cũng đã bộc lộ một số hạn chế sau:

  - Dù đã thu gọn từ 28 xuống 25   nhóm hàng  hoá, dịch vụ  không thuộc diện chịu thuế nhưng vẫn còn quá nhiều. Do không chịu thuế thì hàng  hoá, dịch vụ  không thuộc diện chịu thuế GTGT khi bán ra, nhưng không được  khấu trừ thuế đầu vào nên tính không liên hoàn vẫn còn cao.

-  Việc áp dụng  2 thuế suất: 5% và 10 %, trong đó đã thu hẹp dần  nhóm thuế suất 5% nhưng vẫn  chưa hợp lý đối với một số hàng hoá, dịch vụ và chưa được thể hiện  thống nhất  mức  thuế suất, gây thiếu bình đẳng trong nghĩa vụ nộp thuế. Bên cạnh đó một số tiêu chí xác định để phân biệt sự khác biệt về thuế suất chưa rõ ràng đặc biệt là các tiêu thức hàng nông sản thực phẩm, thủy hải sản qua sơ chế hay chế biến ;con giống, cây giống, trứng giống  hay thực phẩm; thiết bị chuyên dùng trong một số ngành nghề với trang thiết bị nói chung...   gây khó khăn trong thực thi

- Một số  quy định về điều kiện khấu trừ, hoàn thuế  còn  bất cập, chưa thật sự rõ ràng, tăng các thủ tục hành chính thuế cho doanh nghiệp, thậm chí gây rủi ro nghề nghiệp cho cả cán bộ thuế và người nộp thuế.

- Việc áp dụng 2  phương pháp tính thuế, trong đó có phương pháp tính thuế trực tiếp trên GTGT   là chưa chưa phù hợp với yêu cầu quản lý, nâng cao ý  thức tăng cường hạch toán kế toán, giữ sổ sách kế toán đối với người nộp thuế, đặc biệt với hộ nhỏ . 

II. Đánh giá theo tiêu chí:

1.Về tính minh bạch:
          Theo quy định tại Luật thuế GTGt và các văn bản hướng dẫn thực hiện nhiều trường  hợp còn  thiếu tính minh bạch: thể hiện cách hướng dẫn  chưa rõ ràng  đãn đến người nộp thuế, cơ quan thuế hiểu khác nhau. Thậm chí có trường hợp cục  thuế  các địa phương cũng hiểu khác nhau, các cơ quan quản lý cũng có thể hiểu khác nhau. Ví dụ :Sản phẩm surimi chả cá đã tẩm ướp gia vị  Tổng cục thuế hướng dẫn  việc áp dụng thuế suất chưa thống nhất: Công văn số  518/TCT-CS ngày 14/2/2011  hướng dẫn mức thuế suất  là 10%. Trường hợp trước ngày ban hành công văn số 3117/TCT-CS  ngày 18/8/2010 của Tổng cục Thuế, các đơn vị đã xuất hoá đơn, kê khai, nộp thuế đối với sản phẩm surimi chả cá đã tẩm ướp gia vị với mức thuế suất là 5% thì không thực hiện điều chỉnh lại. Xẩy ra tính trạng trên là do hướng dẫn thực hiện tại các văn bản dưới Luật chưa rõ ràng và còn có yếu tổ tồn tại 2 loại thuế suất đối với nhóm sơ chế và chế biến. Cụ thể: Khoản 1-Điều 5: Luật thuế GTGT quy định: Đối  tượng không thuộc diện chịu thuế: Sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu.
 Nhưng tại Thông tư hướng dẫn chưa cụ thể, rõ ràng  khái niệm: chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường ,hoặc hướng dẫn riêng lẻ, không bao quát ... nên tính thuế khác nhau cho cùng một sản phẩm. 

     Đối với dịch vụ phục vụ công cộng về vệ sinh, thoát nước đường phố và khu dân cư bao gồm các hoạt động  thu, dọn, vận chuyển , xử lý rác và chất phế thải; thoát nước, xử lý nước thải; bơm hút, vận chuyển và xử lý phân bùn, bể phốt; thông tắc công trình vệ sinh, hệ thống thoát nước thải; quét dọn nhà vệ sinh công cộng; duy trì vệ sinh tại các nhà vệ sinh lưu động ; đặt dụng cụ thu chứa rác thải phục vụ vệ sinh  môi trường và thu gom, vận chuyển xử lý chất thải khác cho tổ chức, cá nhân  Thông tư 129/2008/TT- BTC  hướng dẫn chưa rõ ràng nên từ đối tượng không chịu thuế , Cơ quan thuế hiểu chỉ là đối tượng không chịu thuế đối với dịch vụ phục vụ công cộng  và phải  áp dụng thuế suất 10 % đối với dịch vụ này khi  các doanh nghiệp thuê các công ty cung ứng dịch vụ . Nhiều doanh nghiệp  đã tự đã kê khai nộp thuế theo thuế suất 10%, một số doanh nghiệp không tính thuế... . Do vậy đã phải có hai Công văn hướng dẫn của Bộ tài chính và Tổng cục thuế , trong đó có công văn  Công văn số  518/TCT-CS ngày 14/2/2011  hướng dẫn  dịch vụ này thuộc đối tượng không chịu thuế  GTGT, nếu  doanh nghiệp đã thực hiện xuất HĐ GTGT cho khách hàng với mức TS 10% thì được lập HĐ điều chỉnh lại để không chịu thuế.

     Các văn bản này đã tự gây mâu thuẫn trong quá trình thực thi, liên quan đến xác định nghĩa  vụ thuế  của doanh nghiệp chưa rõ ràng, minh bạch đồng thời  còn   gây ra việc lãng phí thời gian, công sức  cho cả cơ quan thuế và người nộp thuế trong việc xác định, điều chỉnh hóa đơn chứng từ, tính lại số thuế phải nộp... 

     2. Tính thống nhất
 
- Về nguyên tắc, các văn bản hướng dẫn thực hiện  Luật phải tuân thủ  các văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao hơn , tuy nhiên trong thực tế một số nội dung hướng dẫn của văn bản thực hiện chưa phù hợp với bản pháp luật có giá trị pháp lý cao hơn.  Ví dụ như:  thuế suất thuế GTGT được quy định tại Luật thuế GTGT,  từ ngày 01 tháng 01 năm 2009 đến nay, thuế suất  không thay đổi , nhưng các văn bản hướng dẫn thực hiện thì  thay đổi  theo thời gain: Công văn số  518/TCT-CS ngày 14/2/2011 hướng dẫn  nghiệp vụ ứng trước tiền cho người bán của Công ty chứng khoán  áp dụng thuế suất thuế GTGT là 10%.  Nhưng  theo công văn  Số:  8564/BTC-TCT của Bộ tài chính  ngày 01 tháng 07 : thì Từ ngày 1/8/2011  hoạt động giao dịch mua ký quỹ chứng khoán (margin) của các Công ty chứng khoán (giao dịch mua CK của khách hàng có sử dụng tiền vay của công ty CK và sử dụng các chứng khoán khác có trong tài khoản và chứng khoán mua được bằng tiền vay để cầm cố) theo Thông tư số 74/2011/TT-BTC ngày 1/6/2011 của Bộ Tài chính thuộc đối tượng không thu thuế GTGT .
 
 Theo đó, khi thực hiện sẽ chia làm 2 thời kỳ: từ  ngày 31 tháng 7 năm 2011 trở về trước hoạt động này chịu thuế GTGT theo thuế suất 10%, Từ ngày 01 tháng 8 năm 2011 không chịu thuế.   

- Mặt khác gọi là nộp thuế GTGT, nhưng người mua hàng hóa dịch vụ của đối tượng nộp thuế theo phương pháp trực tiếp, sử dụng hoá đơn bán hàng thông thường, dù giá bán đã bao gồm cả thuế GTGT nhưng người mua hàng  không  được khấu trừ thuế đầu vào  tạo cảm giác không  đồng bộ trong thực thi chính sách thuế., doanh nghiệp thường phàn nàn là không nhất quán về thuế
  -  Hệ thống  chính sách thuế của Việt nam vừa phải phù hợp với điều kiện cụ thể với  đặc điểm kinh tế, xã hội... việt nam vừa phù hợp với thông lệ quốc tế  . Tại  Điều 5 Luật VAT, quy định : “Hàng hóa, dịch vụ của cá nhân kinh doanh có mức thu nhập bình quân tháng thấp hơn mức lương tối thiểu chung áp dụng đối với tổ chức, doanh nghiệp trong nước” . Quy định này là chưa phù hợp với thông lệ chung, gây khó hiểu, thiếu đồng nhất giẵ thuế gián thu, trực thu. Vì thuế GTGT là thuế gián thu nhưng lại  dựa trên cơ sở “mức thu nhập”  của người kinh doanh hàng hóa dịch vụ để xác định hàng hóa dịch vụ này thuộc đối tượng chịu thuế hay không chịu thuế.
3. Tính hợp lý.
          -  Việc quy định quá nhiều nhóm dịch vụ hàng hóa không chịu thuế dẫn đến không bình đẳng do không đảm bảo tính liên hoàn của thuế . Để đảm bảo tính  liên hoàn của thuế GTGT thì việc  mở rộng đối tượng chịu thuế, thu hẹp diện không chịu thuế VAT bằng cách chuyển một số hàng hóa, dịch vụ sang diện chịu thuế hoặc loại bỏ một số hàng hóa, dịch vụ không thuộc diện chịu thuế. Điều này là hợp lý và  phù hợp với chủ trương của nhà nước hiện nay là chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn...
- Việc qui định 2  mức thuế suất  thuế GTGT ngoài thuế suất 0% , đã tạo ra sự không công bằng giữa các hàng hóa, dịch vụ thuộc các mức thuế suất khác nhau.  Khoản 2, Điểm c, Điều 8 Luật VAT qui định: Thức ăn gia súc, gia cầm và thức ăn cho vật nuôi khác thuộc diện áp dụng thuế suất 5%., khoản h quy định : đường, phụ phẩm của đường  áp dụng thuế suất 5%... Thực tế có những sản phẩm vừa sử dụng với mục đích làm thực phẩm cho con ngươi, vừa làm thức ăn gia súc như ngô mảnh, sắn mảnh... thì áp dụng thuế suất là bao nhiêu (5% hay 10%)?   Lập luận cho rằng doanh nghiệp đường gặp khó khăn, hoặc đường sản xuất chủ yếu bằng mía – do nông dân sản xuất ra-  nên được áp dụng thuế suất ưu đãi 5 %   đã không còn phù hợp, bình đẳng trong kinh doanh.  Phân tích trên cho thấy  xét về hiệu quả quản lý và cả về mặt lý luận thì xu hướng chuyển dần sang áp dụng 1 mức thuế suất là phù hợp và cần thiết, hạn chế được những cách hiểu và vận dụng luật  không thống nhất, phân biệt đối xử trong kinh doanh,  gây bất bình đẳng  giữa các doanh nghiệp  cũng như trong tiêu dùng các sản phẩm hàng hóa dịch vụ có mức thuế khác nhau. . Áp dụng một mức thuế suất  cũng sẽ  bảo đảm được tính minh bạch, bình đẳng trong chính sách thuế GTGT, bảo đảm tính liên hoàn của thuế cũng như hạn chế những trường hợp phải hoàn thuế do chênh lệch  thuế suất đầu ra, đầu vào... góp phần  thực hiện cải cách hành chính thuế có hiệu quả và phù hợp với thông lệ quốc tế về thuế GTGT
Mặt khác,  việc tiến tới áp dụng cơ bản một mức thuế suất  là phù hợp  với  quyết định số Số: 732/QĐ-TTg   ngày 17/ 05 / 2011 của Thủ tướng chính phủ  về việc phê duyệt chiến lược CC hệ thống thuế giai đoạn  2011- 2020
                   -Về điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào  -:Khoản 2.Điều 12.  Luật thuế GTGT quy định điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào  như sau:
...
b) Có chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào, trừ hàng hoá, dịch vụ mua từng lần có giá trị dưới hai mươi triệu đồng;
c) Đối với hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu, ngoài các điều kiện quy định tại điểm a và điểm b khoản này phải có hợp đồng ký kết với bên nước ngoài về việc bán, gia công hàng hoá, cung ứng dịch vụ, hoá đơn bán hàng hoá, dịch vụ, chứng từ thanh toán qua ngân hàng, tờ khai hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu.
   Việc thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu dưới hình thức thanh toán bù trừ giữa hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu với hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu, trả nợ thay Nhà nước được coi là thanh toán qua ngân hàng.
         Tuy Bộ tài chính, Tổng cục Thuế đã có thêm công văn  hướng dẫn thực hiện nhằm thuận lợi hơn cho doanh nghiệp, nhưng quy định về việc khấu trừ thuế trong trường hợp thanh toán qua ngân hàng trả chậm ... còn mất nhiều thời gian, thủ tục với doanh nghiệp:  Thông tư 129/2008/TT-BTC quy định: Đối với hàng hoá, dịch vụ mua trả chậm, trả góp có giá trị hàng hoá, dịch vụ mua trên hai mươi triệu đồng, cơ sở kinh doanh căn cứ vào hợp đồng mua hàng hoá, dịch vụ, hoá đơn giá trị gia tăng và chứng từ thanh toán qua ngân hàng của hàng hoá, dịch vụ mua trả chậm, trả góp để kê khai, khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào, đồng thời ghi rõ thời hạn thanh toán vào phần ghi chú trên bảng kê hoá đơn, chứng từ hàng hoá, dịch vụ mua vào. Trường hợp chưa có chứng từ thanh toán qua ngân hàng do chưa đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng, cơ sở kinh doanh vẫn được kê khai, khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào. Đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng nếu không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng thì không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào, cơ sở kinh doanh phải kê khai, điều chỉnh giảm số thuế giá trị gia tăng đầu vào đã khấu trừ của giá trị hàng hoá không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng
         Quy định này gây cho doanh nghiệp gia tăng các thủ tục hành chính về thuế . Đề nghị cho doanh nghiệp khấu trừ, nếu phát hiện doanh nghiêp thanh toán tiền mặt thì sẽ phạt vi phạm pháp luật về thuế.
Ngoài ra thông 129/2008/TT-BTC còn quy định các điều kiện khác chưa phù hợp trong quản lý, hạch toán kế toán và kê khai thuế của doanh nghiêp như:
      Thuế GTGT đầu vào của tài sản cố định, vất tư hàng hóa.. hư hỏng tổn thất không được khấu trừ thuế đầu vào (việc tổn thất có thể xẩy ra nhiều năm sau thời gian  đã kê khai khấu trừ thuế đầu vào nên khó xác định), hoặc hàng hóa hao hụt trong định mức chỉ được khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với mặt hàng xăng dầu ( quy định tại Công văn số  518/TCT-CS ngày 14/2/2011), còn các hàng hóa khác chưa được khấu trừ thuế đầu vào ...  là bất hợp lý,  còn phân biệt đối xử giữa các hàng hóa kinh doanh với nhau.  Thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ hình thành tài sản cố định của doanh nghiệp như nhà ăn ca, nhà nghỉ giữa ca, nhà ở miễn phí, phòng thay quần áo, nhà để xe, nhà vệ sinh, bể nước phục vụ cho người lao động làm việc trong khu vực sản xuất, kinh doanh và nhà ở, trạm y tế cho người lao động làm việc trong các khu công nghiệp được khấu trừ toàn bộ. Nhưng các thiết bị đi kèm như mày điều hòa, thiết bị nhà ăn... lại không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào.
Điều 12. Luật thuế GTGT quy định:                    ...
d) Thuế giá trị gia tăng đầu vào phát sinh trong tháng nào được kê khai, khấu trừ khi xác định số thuế phải nộp của tháng đó. Trường hợp cơ sở kinh doanh phát hiện số thuế giá trị gia tăng đầu vào khi kê khai, khấu trừ bị sai sót thì được kê khai, khấu trừ bổ sung; thời gian để kê khai, bổ sung tối đa là sáu tháng, kể từ thời điểm phát sinh sai sót.
Quy định này đã nới rộng thời gian kê khai bổ sung so với Luật cũ là 2 tháng, nhưng vẫn còn bất cập với  doanh nghiệp, việc  khấu trừ chậm người nộp thuế đã tự gặp khó khăn vì vốn, trong lúc thời điểm tính thuế GTGT đầu ra thì khồn phụ thuộc vào việc đã thu tiền hay chưa thu tiền cũng  đã phải kê khai nộp thuế . Điều này là chưa công bằng, hợp lý giữa Nhà nước và doanh nghiệp  nên việc  nới rộng  thời gian  được  khấu trừ thuế là phù hợp.
4. Tính khả thi      
                                                        
         - Điểm 3, Mục I, c.5 thông tư 129 quy định: Thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, tài sản cố định mua vào bị tổn thất, bị hỏng do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn bất ngờ không được khấu trừ.
Quy định này là thiếu tính khả thi , khó thực hiện trong thực tế và không  thuận lợi cho doanh nghiêp do:
         +Các tổn thất này là bất khả kháng, ngoài ý nuốn của doanh nghiêp
         +Khi mua hàng hoá , tài sản doanh nghiệp đã khấu trừ thuế đầu vào, vài ba năm sau mới phát sinh tổn thất  hư hỏng lúc đó yêu cầu loại trừ thuế đầu vào đã khấu trừ các năm trước làm tăng thêm chi phí tại thời điểm tổn thất
          + Doanh nghiệp mất nhiều thời gian để  tìm lại các chứng từ của số thuế đầu vào đã khấu trừ các năm trước để loại ra..
- Đối với hàng hoá, dịch vụ dùng để khuyến mại, quảng cáo, hàng mẫu phục vụ cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ (sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ dùng để khuyến mại, quảng cáo, hàng mẫu theo quy định của pháp luật thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại) thì phải lập hoá đơn GTGT, trên hoá đơn ghi tên và số lượng hàng hoá, ghi rõ là hàng khuyến mại, quảng cáo, hàng mẫu không thu tiền; dòng thuế suất, thuế GTGT không ghi, gạch chéo.
Theo đó doanh nghiệp không nộp thuế đầu ra  nhưng được khấu trừ thuế đầu vào. Tuy nhiên trong thực tế  sản phẩm khuyến mại, quảng cáo  của doanh nghiệp khó thực hiện theo quy định của pháp luật thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại (cơ quan thương mại không tiếp nhận hồ  sơ và xác định đầy đủ thủ tục) nên doanh nghiệp thực tế khuyến mại  vẫn không được khấu trừ thuế đầu vào. Như vậy quy định của Luật thì ddwwocj khấu trừ , nhưng thực teesnhieeuf hàng hóa tiếp thị khuyến mại không được khấu trừ thuế đầu vào.
         -Điều 8 Luật thuế GTGT quy định :   Mức thuế suất 0% áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, vận tải quốc tế và hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế giá trị gia tăng quy định tại Điều 5 của Luật này khi xuất khẩu, trừ các trường hợp chuyển giao công nghệ, chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ ra nước ngoài; dịch vụ tái bảo hiểm ra nước ngoài; dịch vụ cấp tín dụng, chuyển nhượng vốn, dịch vụ tài chính phái sinh; dịch vụ bưu chính, viễn thông; sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác chưa qua chế biến ...
Thông tư 129/2008/TT-BTC  quy định cụ thể:
-Dịch vụ xuất khẩu bao gồm dịch vụ được cung ứng trực tiếp cho tổ chức, cá nhân ở nước ngoài hoặc ở trong khu phi thuế quan.
Tổ chức ở nước ngoài là tổ chức nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam, không phải là người nộp thuế giá trị gia tăng tại Việt Nam;
Cá nhân ở nước ngoài là người nước ngoài không cư trú tại Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài và ở ngoài Việt Nam trong thời gian diễn ra việc cung ứng dịch vụ;
Khi xuất khẩu bản thân người xuất khẩu chưa xác định được bên nhập khẩu dịch vụ có đáp ứng  các yêu cầu: không có cơ sở thường trú tại Việt Nam, không phải là người nộp thuế giá trị gia tăng tại Việt Nam hay là người nước ngoài không cư trú tại Việt Nam hay không nên rất khó thực hiện
-.Về giá tinh thuế GTGT
Luật thuế GTGT quy định:
Đối với hoạt động kinh doanh bất động sản là giá bán bất động sản chưa có thuế giá trị gia tăng, trừ giá chuyển quyền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất phải nộp ngân sách nhà nước;
Thông tư 129/2008/TT-BTC quy định:
Đối với hoạt động kinh doanh bất động sản, giá tính thuế là giá chuyển nhượng bất động sản trừ (-) giá đất (hoặc giá thuê đất) thực tế tại thời điểm chuyển nhượng. Trường hợp giá đất tại thời điểm chuyển nhượng do người nộp thuế kê khai không đủ căn cứ để xác định giá tính thuế hợp lý theo quy định của pháp luật thì tính trừ theo giá đất (hoặc giá thuê đất) do UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định tại thời điểm chuyển nhượng bất động sản. Giá đất tính trừ để xác định giá tính thuế tối đa không vượt quá số tiền đất thu của khách hàng.
Trường hợp xây dựng, kinh doanh cơ sở hạ tầng, xây dựng nhà để bán, chuyển nhượng có thu tiền theo tiến độ thực hiện dự án hoặc tiến độ thu tiền ghi trong hợp đồng, giá đất được trừ (-) là giá đất thực tế tại thời điểm thu tiền lần đầu theo tiến độ.  Giá đất được trừ tính theo tỷ lệ (%) của số tiền thu theo tiến độ thực hiện dự án hoặc tiến độ thu tiền ghi trong hợp đồng với giá đất thực tế tại thời điểm chuyển nhượng (thời điểm thu tiền lần đầu theo tiến độ).
Hiện nay có nhiều công văn của Bộ tài chính, Tổng cục thuế hướng dẫn nội dung này, nhưng khó thực hiện, tính khả thi chưa cao do giá đất khi chưa có công  trình, dự án đầu tư khác với giá đất đẫ có cơ sở hà tầng, đường xá, cầu cống. Hợp đồng mua bán khoong tách bạch giá đất, giá nhà...cần sửa đổi bổ sung cho phù hợp.để có tính khả thi hơn../.